Chuyển tới nội dung

Hợp đồng điện tử là gì, có giá trị pháp lý hay không ?

20-10-2020
Việc giao dịch thông qua đàm phán qua internet không còn là điều quá xa lạ với các doanh nghiệp hơn nữa còn giúp tiết kiệm tối đa chi phí, thời gian, thuận tiện cho việc trao đổi dữ liệu. Để thuận tiện cho quá trình giao kết, tiết kiệm được thời gian, chi phí của các bên thì việc giao kết hợp đồng với đầy đủ tính hợp pháp mà không cần gặp mặt trực tiếp cũng là một giải pháp thích hợp và xu hướng phát triển tự nhiên.

Tuy nhiên Hợp đồng điện tử là gì, Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý hay không, cũng như cách triển khai và áp dụng thế nào? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp các thắc mắc này cho chúng ta:

Định nghĩa Hợp đồng điện tử

Theo quy định của Luật Giao dịch điện tử 2005 thì “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật giao dich điện tử”. Theo đó, “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” và "Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự

Từ đó, có thể hiểu Hợp đồng điện tử là giao dịch điện tử được các bên thoả thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ và được gửi đi, được nhận lại và được lưu giữ các thông tin bằng phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.

     Chủ thể trong giao kết hợp đồng

Ngoài hai bên giao dịch, đàm phán trong hợp đồng thì hợp đồng điện tử còn có chủ thể thứ ba đó là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực chữ ký điện tử.

Bên thứ ba không tham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán, giao kết hợp đồng mà tham gia với tư cách hỗ trợ cho việc thực hiện hợp đồng và đảm bảo tính hiệu quả cũng như giá trị pháp lý của hợp đồng.

     Hình thức của hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử được thiết lập dưới dạng thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.

     Địa điểm giao kết hợp đồng

Luật giao dịch điện tử 2005 không quy định địa điểm giao kết hợp đồng mà chỉ quy định địa điểm gửi và nhận các thông điệp dữ liệu điện tử. Địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở của người khởi tạo, trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ sở thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch. Địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở của người nhận nếu người nhận có nhiều trụ sở thì địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.

     Thời điểm trong giao kết hợp đồng

Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng điện tử sẽ căn cứ vào thời điểm nào trong quá trình gửi và nhận thông điệp dữ liệu giữa người khởi tạo và người nhận thông điệp dữ liệu điện tử, thì Luật Giao dịch điện tử quy định:

  • Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo. Với quy định này thì có thể hiểu là thời điểm gửi thông điệp dữ liệu được xác định là thời điểm thông điệp dữ liệu ra khỏi hệ thống máy chủ của người gửi.
  • Thời điểm nhận là thời điểm thông điệp dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định trong trường hợp người nhận đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu; nếu người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận.

     Giao kết và thực hiện hợp đồng

Các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng.

Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng như:

  • Các bên tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng;
  • Tự do giao kết nhưng không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.

Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.

Sử dụng chữ ký điện tử để giao kết hợp đồng.

     Tính pháp lý của Hợp đồng điện tử

Theo quy định tại Điều 34 Luật Giao dịch điện tử 2005, giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.

 Ngoài ra, Điều 14 Luật này cũng quy định: Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu. Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

Như vậy, pháp luật đã ghi nhận tính pháp lý của hợp đồng điện tử và được sử dụng làm chứng cứ trong trường hợp một trong hai bên không thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm điều khoản của hợp đồng nhưng phải đảm bảo rằng:

  • Nội dung của hợp đồng điện tử được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng thông điệp hoàn chỉnh. Nghĩa là thông điệp đó trong hợp đồng điện tử chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu.
  • Nội dung của thông điệp dữ liệu trong hợp đồng điện tử có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết nghĩa là thông điệp dữ liệu có thể mở được, đọc được, xem được bằng phương pháp mã hoá hợp pháp đảm bảo độ tin cậy mà các bên thoả thuận với nhau.
2 bầu chọn / trung bình: 5